f
  • DỰ ÁN HONGKONG TOWER

    Mở bán chung cư cao cấp Hong Kong Tower 243a Đê La Thành - Dự án Bất động sản cao cấp tiêu biểu ngay tại trung tâm thành phố Ha Nội là biểu tượng của cuộc sống hiện đại và tiện nghi trong lòng thủ đô. Xem chi tiết
  • MỞ BÁN ĐỢT 2 - 50 CĂN HỘ

    Ngày 15-4-2015 Dự án Hongkong Tower tiến hành mở bán đợt 2, số lượng 50 căn. Hãy liên hệ với Bộ phận Tư vấn để lựa chọn căn tầng đẹp nhất... Xem chi tiết
  • TIỆN ÍCH CAO CẤP

    Những Tiện ích cao cấp nhất đều có mặt tại Dự án đáp ứng mọi nhu cầu của cư dân... Xem chi tiết
  • KHÔNG GIAN SANG TRỌNG

    Những căn hộ chung cư Hong Kong Tower với nội thất sang trọng, tất cả các phòng đều được thiết kế để đón được ánh sáng tự nhiên Xem chi tiết
  • NHỮNG CĂN HỘ ĐẸP NHẤT DỰ ÁN ĐANG BÁN

    Khách đầu tư bán lại những căn hộ chung cư Hongkong Tower đẹp nhất Dự án, view đẹp và cực thoáng mát. Giá bán thấp nhất thị trường Xem chi tiết
  • ĐỘI NGŨ TƯ VẤN

    Cung cấp những dịch vụ tư vấn bất động sản, tư vấn tài chính và chăm sóc khách hàng chuyên nghiệp nhất nhằm giúp khách hàng tìm được ngôi nhà mơ ước của mình là triết lý kinh doanh của chúng tôi. Xem chi tiết
Hiển thị các bài đăng có nhãn LIÊN HỆ TƯ VẤN CHUNG CƯ HONG KONG TOWER. Hiển thị tất cả bài đăng

Bất động sản cao cấp sắp trở lại dẫn dắt thị trường

Ngày 25/4, tại buổi Tọa đàm “Xu hướng Bất động sản Việt Nam 2015 phân khúc cao cấp” do Công ty CP Đầu tư Dầu Khí Toàn Cầu - GP Invest tổ chức, ông Nguyễn Mạnh Hà - Cục trưởng Cục Quản lý Nhà và Thị trường BĐS (Bộ Xây dựng) cho rằng,thị trường BĐS sẽ có sự “hưng phấn” thuận lợi sau khi Luật Kinh doanh BĐS có hiệu lực vào ngày 1/7/2015 và phân khúc BĐS cao cấp sẽ trở lại dẫn dắt thị trường.


Ông Nguyễn Mạnh Hà nhận định: Năm 2015, tình hình giao dịch BĐS ngoài phân khúc giá rẻ thì phân khúc trung cao cấp sôi động trở lại. Theo thống kê của Bộ Xây dựng, tổng số lượng giao dịch tăng gấp 3 lần so với cùng kỳ năm 2014. Giá BĐS ổn định, không còn giảm sâu nữa, có một số dự án giá tăng lên tăng đến 10%. Tình hình tồn kho BĐS giảm trừ dự án sâu xa và thiếu hạ tầng đi kèm và sản phẩm cao cấp có diện tích quá lớn giá trị trên dưới 10 tỷ. Giá cả đã hướng về khả năng chi trả và thu nhập của người dân. Tín dụng đã quay trở lại, ngân hàng đã cho vay vào BĐS đến nay đạt khoảng trên 300 nghìn tỷ cho cả chủ đầu tư và khách mua nhà. Lãi suất tiết kiệm gửi ngân hàng thấp nên dòng tiền trong dân đổ vào BĐS tăng lên. Gói 30 nghìn tỷ đang vận hành, nhiều người mua nhà dưới 1.050 tỷ và nhà ở xã hội tiếp cận được dưới sự điều hành của Chính phủ. Sắp tới, một số ngân hàng thương mại sẽ có gói cho vay đối với khách hàng mua nhà trên dưới 2 tỷ đồng lãi suất ưu đãi. Như vậy, nhiều điều kiện thuận lợi để khách hàng có thể mua được nhà thời điểm này.

Bên cạnh đó, Luật Nhà ở và kinh doanh BĐS sẽ có hiệu lực vào ngày 1/7/2015 tới chắc chắn sẽ tạo “hưng phấn” cho thị trường. Đối tượng người nước ngoài được mở rộng điều kiện để sở hữu nhà tại Việt Nam, có thể mua được cả liền kề, nhà biệt thự trong các dự án thương mại, chỉ cần có visa vào Việt Nam đã được mua nhà.

Các giao dịch BĐS của các chủ đầu tư khi bán không cần qua sàn sẽ tạo sự chủ động cho doanh nghiệp trong kế hoạch bán hàng. Những chủ đầu tư bán nhà hình thành trong tương lai phải có bảo lãnh của ngân hàng. Mặc dù có ý kiến cho rằng điều kiện này tạo khó khăn cho chủ đầu tư nhưng ông Hà cho rằng với những chủ đầu tư uy tín thì việc có bảo lãnh của ngân hàng không quá khó. Việc này sẽ tạo niềm tin của người dân và họ sẵn sàng quay trở lại với thị trường. Tư duy cải cách hành chính, giảm bớt thủ tục, các thủ tục xin giấp phép đầu tư, cấp sổ đỏ cho người dân, thủ tục vay vốn ngân hàng sẽ nhanh hơn thuận tiện hơn.

Ông Vũ cương Quyết, Tổng Giảm đốc Công ty CP Dịch vụ và Địa ốc Đất Xanh miền Bắc chia sẻ: Hiện tại, khách hàng mua BĐS có sự khác biệt hơn rất nhiều khách hàng mua BĐS thời điểm mua nhà năm 2012, 2013. Khách hàng đã thông thái hơn và là khách hàng mua thực ở thực không phải là khách đầu tư lướt sóng. Khách hàng tìm hiểu rất kỹ về các dự án do đơn vị phân phối tư vấn, họ tìm hiểu về tính pháp lý, quy hoạch có chuẩn không, giấy phép cho dự án được cấp chưa, tiền thuế đất chủ đầu tư nộp chưa, quyền lợi khách hàng cũ có được giải quyết ổn thỏa không, năng lực, uy tín, tiềm lực tài chính và tiến độ có được cam kết đảm bảo không? Họ có thể tìm hiểu thông qua nhiều nguồn thông tin khác nhau, thông qua các dự án đã làm, thông qua uytín của người đứng đầu, thông qua báo cáo tài chính, thông qua cách thức vận hành doanh nghiệp, vận hành khu đô thị, dự án mà chủ đầu tư thực hiện…

Vị trí tốt đang được khách hàng đón nhận, vì vị trí liên quan đến cơ sở hạ tầng đồng bộ vì dù chủ đầu tư có uy tín đấy đâu thì năng lực cũng có hạn không thể đầu tư tất cả các hạng mục phục vụ cư dân như trường học, bệnh viện, khu vui chơi giải trí… Giá BĐS hợp lý giảm từ 10-15% trong khi chi phí đầu tư của chủ đầu tư cao hơn thời kỳ trước.

Theo ông Quyết, trong thời gian tới, phân khúc bất động sản trung, cao cấp sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ hơn nữa, giữ vai trò dẫn dắt thị trường. Tất nhiên, đó vẫn phải là những dự án có những ưu điểm về vị trí, tiện ích và uy tín của chủ đầu tư...

Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ xã hội đô thị Việt Nam

Ngày 15/4, Hội thảo “Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ xã hội đô thị Việt Nam” do Bộ Xây dựng tổ chức tại Khu đô thị Ecopark, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.
Tham dự Hội tháo có Thứ trưởng Bộ Xây dựng Phan Thị Mỹ Linh và đại diện lãnh đạo nhiều cơ quan Bộ, ngành, hiệp hội và đại diện các tổ chức quốc tế tham dự sự kiện này.

Với mục tiêu đẩy nhanh quá trình phát triển hệ thống dịch vụ xã hội, nâng cao chất lượng dịch vụ, mở rộng khả năng tiếp cận, thụ hưởng của cư dân đô thị, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo Bộ Xây dựng thay mặt Chính phủ xây dựng Đề án “Đánh giá và định hướng phát triển hệ thống dịch vụ xã hội đô thị đến năm 2020”. Cuộc hội thảo “Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ xã hội đô thị Việt Nam” là một trong những bước cụ thể hóa, xây dựng đề án nêu trên.

Phát biểu tại Hội thảo, Thứ trưởng Bộ Xây dựng Phan Thị Mỹ Linh đánh giá: Trong thời gian qua, nhiều đô thị được mở rộng về quy mô không gian. Dân số, mật độ dân cư tại các khu vực nội độ ngày càng tăng cao. Tuy nhiên, quá trình mở rộng, tăng trưởng này không diễn ra đồng đều mà chủ yếu diễn ra tại các đô thị lớn như Hà Nội và TP HCM. Ngược lại, tại nhiều đô thị nhỏ và vừa lại diễn ra quá trình sụt giảm dân số do dân cư di chuyển về các trung tâm đô thị lớn.


Đô thị phát triển là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội. Các hoạt động kinh tế tại các khu vực đô thị đã tạo ra hàng triệu việc làm cho người lao động, góp phần quan trọng trong việc duy trì sự ổn định và phát triển chung của toàn xã hội. Với sự phát triển đô thị và mở rộng như hiện nay, việc hình thành và phát triển hệ thống dịch vụ xã hội, đồng thời hoàn thiện hệ thống dịch vụ xã hội trong đô thị đã đóng vai trò quan trọng, làm tăng sức hấp dẫn trong thu hút đầu tư, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân và mang lại nguồn thu lớn cho các đô thị.

Tuy nhiên, Thứ trưởng Phan Thị Mỹ Linh nhấn mạnh, việc phát triển đô thị mới chú trọng đến lĩnh vực hạ tầng kỹ thuật đô thị mà chưa quan tâm đến lĩnh vực hạ tầng xã hội cũng như dịch vụ gắn liền với nó của chính quyền đô thị đã làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người dân đô thị.

Nguyên nhân cơ bản của thực trạng này là sự thiếu vắng những định hướng phát triển tổng thể toàn diện cho hệ thống dịch vụ xã hội đô thị, chưa có các chính sách khuyến khích phát triển, xã hội hóa các nguồn đầu tư nhằm nâng cao năng lực cạch tranh của các nhà cung cấp dịch vụ trong nước, thiếu các hành lang pháp lý minh bạch chặt chẽ nhằm kiểm soát chất lượng dịch vụ đảm bảo quyền lợi của người dân sử dụng dịch vụ.

Ông Nguyễn Quang - Giám đốc Chương trình Định cư con người Liên hợp quốc (UN Habitat) tại Việt Nam đưa ra quan điểm cần thực hiện các quy tắc bắt buộc để phát triển dịch vụ đô thị. Các quy tắc này luôn luôn phải đảm bảo tính công khai minh bạch và được tất cả các bên tham gia gồm cả chủ đầu tư, bên cung cấp dịch vụ và cư dân sinh sống tại KĐT. Công khai minh bạch về mức phí dịch vụ, về tiện ích hạ tầng chung riêng, về tiêu chuẩn, chất lượng của hệ thống dịch vụ công cộng như bệnh viện, trường học, vui chơi giải trí, cung cấp nước sạch, vệ sinh môi trường trong cả quá trình vận hành khu đô thị.

Ông Đào Ngọc Thanh - Tổng Giám đốc Công ty CP Đầu tư và Phát triển KĐT Việt Hưng, chia sẻ: Trên địa bàn cả nước đã và đang triển khai khoảng 1.500 dự án nhà ở và KĐTM với nhiều quy mô khác nhau, đã góp phần thay đổi diện mạo của đất nước. Tuy nhiên, nhiều vấn đề nảy sinh khi các KDTM đi vào hoạt động như: Sự xuống cấp của hệ thống cơ sở hạ tầng, kỹ thuật, sự thiếu thốn, yếu kém của hạ tầng xã hội, chất lượng dịch vụ công ích không tương xứng… Đây thực sự là những thách thức lớn đối với các nhà quản lý.

“Đứng trước thách thức đó, với vai trò là một nhà phát triển BĐS chuyên nghiệp, chúng tôi rất mong muốn sẽ được tiếp thu, lắng nghe những chia sẻ kinh nghiệm để nâng cao quản lý và phát triển dịch vụ xã hội đô thị cũng như cùng các DN khác trong ngành đưa ra các đề xuất xây dựng, hoàn thiện các chính sách về quản lý, phát triển dịch vụ xã hội đô thị.” - ông Thanh nói.

Các diễn giả quốc tế với các chủ đề liên quan đến các hướng dẫn quốc tế về tiếp cận dịch vụ cơ bản cho người dân, các giải pháp phát triển đô thị gắn liền với cung cấp các dịch vụ xã hội cho người dân, kinh nghiệm cung cấp nước sạch tại Nhật Bản… Các diễn giả cũng chia sẻ với hội thảo về những kinh nghiệm phát triển cũng như các thực tế tiên tiến đang được áp dụng tại những quốc gia khác trên thế giới.

Bà Nguyễn Thị Hà Anh - Phó Cục trưởng Cục Phát triển đô thị (Bộ Xây dựng) ghi nhận: Những nội dung các diễn giả, chuyên gia đã chia sẻ sẽ là những gợi ý tốt cho các nhà quản lý, người làm công tác đào tạo, tư vấn trong công tác quản lý phát triển dịch vụ xã hội đô thị và việc thực hiện công tác phát triển dịch vụ xã hội trong các đô thị tại Việt Nam.

Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB), Việt Nam là một trong những nước có tốc độ đô thị hóa cao nhất Đông Nam Á. Nếu như vào năm 1986 tỷ lệ dân cư sống tại đô thị Việt Nam mới chỉ chiếm khoảng 19% thì đến năm 2013 tỷ lệ này đã đạt gần 34%. Dự kiến đến 2020 tỷ lệ đô thị hóa tại Việt Nam sẽ đạt 45%. TP Hà Nội (dân số khoảng 7 triệu người) và TP HCM (dân số nội thị khoảng 10 triệu người) hiện nằm trong danh sách các TP lớn nhất của khu vực.

Xử lý nợ xấu nhìn từ cơ chế phối hợp

Nghị định 34 đã bổ sung, quy định cụ thể về trách nhiệm của các Bộ, cơ quan liên quan trong việc hỗ trợ VAMC xử lý nợ xấu.
Kết quả xử lý nợ xấu của Công ty Quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam (VAMC) và các TCTD thời gian qua chưa đạt kết quả như kỳ vọng có nguyên nhân do thiếu sự phối hợp, hỗ trợ hợp lý của các bộ, ngành liên quan.


Chính vì vậy, chỉ sau chưa đầy 2 năm áp dụng Nghị định số 53/2013/NĐ-CP về thành lập, tổ chức và hoạt động của VAMC, một Nghị định mới được ban hành là Nghị định 34/2015/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 53/2013/NĐ-CP.

Theo các chuyên gia, Nghị định 34 đã bổ sung, quy định cụ thể về trách nhiệm của các bộ, cơ quan liên quan trong việc hỗ trợ VAMC xử lý nợ xấu phù hợp với trách nhiệm, quyền hạn của từng cơ quan.

Cụ thể, Nghị định 34 đã bổ sung trách nhiệm của Bộ Tài nguyên và Môi trường theo hướng, Bộ này có vai trò chỉ đạo, hướng dẫn các đơn vị trực thuộc phối hợp, hỗ trợ việc thực hiện chuyển đổi mục đích sử dụng đất trong quá trình xử lý tài sản bảo đảm theo đề nghị của Công ty Quản lý tài sản; và chỉ đạo, hướng dẫn các đơn vị trực thuộc phối hợp, hỗ trợ việc thực hiện chuyển quyền sử dụng đất trong quá trình xử lý tài sản bảo đảm của Công ty Quản lý tài sản.

Các chuyên gia pháp chế ngân hàng cho biết, việc bổ sung trách nhiệm của Bộ Tài nguyên và Môi trường là cần thiết, bởi lẽ, theo quy định của Luật Đất đai 2013, người sử dụng đất bị giới hạn theo mục đích sử dụng đã được quyết định tại thời điểm giao đất hoặc được thuê từ Nhà nước; và người nắm giữ quyền sử dụng đất không được sử dụng cho bất kỳ mục đích nào khác với mục đích đã được quyết định.

Trong trường hợp tiếp nhận quyền sử dụng đất, nhà đầu tư không được phép sử dụng đất cho các mục đích khác với mục đích đã được quy định trước khi nhận chuyển nhượng, trừ khi được sự chấp thuận của Nhà nước hoặc trong trường hợp đất được trả lại, sau đó ký hợp đồng thuê đất mới với Nhà nước.

Nếu thực hiện đúng trình tự nêu trên thì với quy định hiện hành, các tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất không thể thu hút sự quan tâm của nhà đầu tư, gây khó khăn rất lớn cho việc xử lý nợ của VAMC.

Do vậy, việc Bộ Tài nguyên và Môi trường chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện chuyển mục đích sử dụng đất khi xử lý tài sản bảo đảm là điều kiện tiên quyết để đẩy nhanh tiến độ xử lý nợ xấu của VAMC.

Cùng với đó, việc bổ sung trách nhiệm này để xử lý tài sản bảo đảm là dự án đầu tư bất động sản thì VAMC phải thực hiện chuyển đổi mục đích sử dụng đất theo yêu cầu hợp lý của nhà đầu tư.

Một điểm mới khác, theo quy định tại Nghị định 53/2013/NĐ-CP, Bộ Công an và UBND các cấp có trách nhiệm hỗ trợ VAMC trong việc thu hồi, thu giữ tài sản bảo đảm và hỗ trợ việc chuyển quyền sở hữu tài sản bảo đảm cho người mua. Tuy nhiên, thời gian qua khi tiến hành thu giữ tài sản bảo đảm để xử lý, VAMC chưa nhận được sự hỗ trợ của cơ quan công an các cấp nơi thu giữ tài sản bảo đảm, trong khi chủ sở hữu tài sản chây ì, không hợp tác với VAMC để bàn giao tài sản bảo đảm theo quy định.

Do vậy, Nghị định 34 đã bổ sung theo hướng giao Bộ Công an, UBND có văn bản chỉ đạo, hướng dẫn các đơn vị trực thuộc triển khai hỗ trợ VAMC trong việc thu giữ, thu hồi tài sản và chuyển quyền sở hữu tài sản cho người mua.

Đối với trách nhiệm của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, thời gian qua việc xử lý tài sản bảo đảm gắn liền với đất thuê tại khu công nghiệp gặp phải khó khăn trong việc thu hồi giấy chứng nhận đầu tư để cấp giấy chứng nhận đầu tư mới cho người mua, hoặc trúng đấu giá tài sản (người mua tài sản bảo đảm).

Cụ thể là tại Khoản 2, Điều 64, Luật Đầu tư không có quy định đối với việc điều chỉnh giấy chứng nhận đầu tư hoặc thu hồi giấy chứng nhận đầu tư trong trường hợp tài sản trên đất của dự án đầu tư là tài sản bảo đảm bị xử lý (bán) để thu hồi nợ.

Để khắc phục điều này, Nghị định 34 đã bổ sung trách nhiệm của Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong việc hướng dẫn về trình tự, thủ tục thu hồi giấy chứng nhận đầu tư để cấp giấy chứng nhận đầu tư mới cho người mua hoặc người trúng đấu giá tài sản trên đất của dự án đầu tư là tài sản bảo đảm bị xử lý của khoản nợ của VAMC.

Ngoài ra, trong quá trình xử lý khoản nợ, việc VAMC bán tài sản bảo đảm không phải là hoạt động kinh doanh tài sản (đã được xác định rõ tại Khoản 5 Điều 58 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm) mà nhằm xử lý nợ xấu, khai thác tiềm năng của đất đai phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. VAMC bán tài sản bảo đảm là các dự án bất động sản cho nhà đầu tư không nhằm mục tiêu thu lợi từ việc chuyển nhượng dự án mà góp phần chống xuống cấp của các dự án bất động sản dở dang, sau đó hoàn thiện và đưa vào phục vụ nhu cầu dân sinh, phục vụ tăng trưởng kinh tế - xã hội.

Tuy nhiên, việc xử lý tài sản bảo đảm của dự án bất động sản của VAMC khó thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành. Do đó, để VAMC bán tài sản bảo đảm là các dự án bất động sản cần có hướng dẫn cụ thể.

Từ thực tế này, Nghị định 34 đã bổ sung quy định về trách nhiệm của Bộ Xây dựng là hướng dẫn việc hoàn thiện hồ sơ pháp lý theo quy định pháp luật về xây dựng và kinh doanh bất động sản đối với tài sản bảo đảm là dự án bất động sản; và hướng dẫn về điều kiện bán tài sản bảo đảm của Công ty Quản lý tài sản là dự án bất động sản cho nhà đầu tư khi có vướng mắc.

Hà Nội tổng kiểm tra các dự án bất động sản

Hà Nội yêu cầu khẩn trương rà soát, kiểm tra việc đầu tư công trình hạ tầng tại các khu đô thị, dự án nhà ở...
UBND thành phố Hà Nội vừa yêu cầu các đơn vị chức năng khẩn trương rà soát tổng thể các dự án nhà ở thương mại và khu đô thị mới, trong đó tập trung vào việc xây dựng các hạ tầng.

Theo chỉ đạo của Phó chủ tịch UBND thành phố Nguyễn Ngọc Tuấn, các Sở: Xây dựng, Quy hoạch Kiến trúc, Kế hoạch và Đầu tư, Tài nguyên và Môi trường, Giao thông Vận tải, tuỳ vào chức năng của mình phải tiến hành rà soát tổng thể các dự án nhà ở, khu đô thị trên địa bàn thành phố.


Trong quá trình rà soát, phải tập trung làm rõ tiến độ và sự chấp hành của các chủ đầu tư trong việc đầu tư xây dựng các hạng mục hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật tại các khu đô thị, khu chung cư, báo cáo về UBND thành phố trong tháng 4/2015.

UBND thành phố cũng yêu cầu các cơ quan nói trên, khi tiến hành thủ tục cấp phép đầu tư, chấp thuận dự án phải nghiêm túc thẩm tra hồ sơ, xác định tiến độ cụ thể của dự án hạ tầng kỹ thuật - xã hội cũng như phương thức và cơ chế đầu tư các hạng mục này.

Đặc biệt, khi đề xuất xem xét lựa chọn nhà đầu tư các dự án mới, các sở ngành không đề xuất các nhà đầu tư kém năng lực, cố tình không thực hiện hoặc chậm tiến độ các công trình hạ tầng theo tiến độ dự án đã được chấp thuận.

Cùng với đó, Sở Kế hoạch và Đầu tư khẩn trương phối hợp với các sở ngành liên quan, các quận huyện rà soát, lập danh mục kế hoạch đầu tư các công trình khớp nối các công trình hạ tầng của các dự án nhà ở, khu đô thị với khu vực xung quanh của thành phố; cùng Sở tài chính cân đối nguồn vốn để thực hiện các công trình này.

Trong số 859 dự án được rà soát, có 777 dự án với diện tích hơn 2.190ha là nằm trong danh mục các dự án theo kế hoạch của thành phố. Có 82 dự án được các cơ quan thẩm quyền và quận, huyện bổ sung.

Theo một báo cáo mới đây của UBND thành phố Hà Nội, đến cuối 2014, thành phố tiến hành rà soát được gần 900 dự án nhà ở, bất động sản, trong đó có đến 352 dự án với diện tích hơn 1.400ha có dấu hiệu vi phạm Luật Đất đai, chưa hoặc chậm thực hiện nghĩa vụ tài chính về tiền sử dụng đất, thuê đất… 

Trong đó, 157 dự án có dấu hiệu vi phạm Luật Đất đai như không sử dụng đất trong 12 tháng liền, sử dụng sai mục đích hoặc cho thuê, chuyển nhượng trái quy định; 53 dự án chậm tiến độ 24 tháng; có 35 dự án vướng mắc trong bồi thường, giải phóng mặt bằng…

Tuy nhiên, theo UBND thành phố, mặc dù số lượng dự án nhiều như vậy, song từ năm 2006 đến 2009, Sở Xây dựng mỗi năm chỉ kiểm tra 2 dự án. Đến năm 2012 là 30 dự án, 2013 là 17 dự án, năm 2014 chỉ khoảng là 30 dự án.

Quầy bar hiện đại trong Chung cư Hong Kong Tower

Là khu vực ăn uống thu nhỏ gần khu vực nấu ăn, một quầy bar tiện dụng được thiết kế ngay trong không gian phòng bếp đã trở thành một hình ảnh ngày càng quen thuộc trong nhiều gia đình.

Trong các thiết kế nội thất Chung cư Hong Kong Tower, chủ nhân thường yêu cầu kiến trúc sư làm thêm một quầy bar nhỏ. Quầy bar gia đình không chỉ là nơi thư giãn hiệu quả mà còn góp phần tạo nên vẻ đẹp, sự tiện nghi cho không gian sống.

Trong các thiết kế mở, quầy bar có thể trở thành một vách ngăn hữu dụng giữa bếp – phòng khách hoặc bếp – phòng ăn. Bar bố trí liền với phòng bếp còn là nơi ăn nhanh rất tiện lợi. Ngoài ra, với một số căn hộ, quầy bar có thể đặt trong phòng sinh hoạt chung của cả gia đình. Bạn cũng cần nhớ rằng, dù đặt quầy bar ở đâu cũng chú ý không để nó cản trở lối đi trong nhà.

golden palace, chung cư golden palace, phòng bếp, nội thất, thiết kế nội thất, tủ bếp, đảo bếp, quầy bar mini, không gian sáng tạo

Quầy bar gia đình thường có kích thước nhỏ, chiều cao chỉ khoảng trên dưới 1m, độ rộng 0,4 – 0,5m. Nếu bạn muốn bố trí quầy bar nằm ở trung tâm căn bếp thì không gian xung quanh cần đủ rộng để chỗ ngồi và lối đi lại dễ dàng, thường là khoảng 1m.

Quầy bar có thể được thiết kế bằng vật liệu gỗ, kính, kim loại hoặc đá tự nhiên. Màu sắc tùy thuộc vào phong cách thiết kế chung của căn hộ Chung cư Hong Kong Tower cũng như sở thích của chủ nhân.

golden palace, chung cư golden palace, phòng bếp, nội thất, thiết kế nội thất, tủ bếp, đảo bếp, quầy bar mini, không gian sáng tạo

Đôi khi, đảo bếp cũng có thể tận dụng trở thành một quầy bar. Đặc biệt, với thiết kế nhà ống, bàn bếp dài hình chữ L sẽ là một không gian bar lãng mạn và đầy ấn tượng để các thành viên trong gia đình có thể cùng nhau trò chuyện khi chuẩn bị cho bữa ăn mỗi ngày.

golden palace, chung cư golden palace, phòng bếp, nội thất, thiết kế nội thất, tủ bếp, đảo bếp, quầy bar mini, không gian sáng tạo

Ghế dành cho quầy bar thường là loại ghế xoay, có thể thay đổi chiều cao, từ 0,6 – 0,8m và có giá để chân. Vì thời gian ngồi của chủ nhân không dài nên ghế có thể không có phần tựa hoặc phần tựa thấp. Đặc biệt, bạn nên chọn những chiếc ghế đơn giản, không quá to và rườm rà nhưng vẫn cần có những chi tiết cách điệu để không bị nhàm chán.

Ngoài ra, một quầy bar hoàn chỉnh còn cần có những phụ kiện khác như giá treo ly, đèn trang trí… Những chiếc ly đủ màu đủ kiểu đôi khi cũng là một niềm tự hào của chủ nhân. Phía dưới mặt quầy, bạn có thể khéo léo bố trí hệ thống tủ tương đồng với tủ bếp để đựng rượu, hoặc đơn giản là các dụng cụ làm bếp để tận dụng không gian lưu trữ cho gia đình. Đèn cho quầy bar không nên quá rườm rà, chỉ đơn giản là đèn âm trần hoặc vài chiếc đèn thả đơn giản và đồng bộ với thiết kế chung của căn phòng.

Quầy bar gia đình là nơi bạn nghỉ chân, uống một ly nước mát lạnh hay ăn vài miếng trái cây tươi mát, và ngồi trò chuyện trong bếp… Một quầy bar hẳn sẽ khiến cho không khí gia đình thêm đầm ấm, chỉ là một chút biến tấu trong cách thiết kế nội thất thông thường để tạo nên một không gian tuyệt vời như thế.




Cảm ơn Quý khách đã đọc bài viết "Quầy bar hiện đại trong Chung cư Hong Kong Tower 243A Đê La Thành""

Cải cách trong lĩnh vực quy hoạch: Gỡ rào cản cho nhà đầu tư

Thời gian đầu thực hiện quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, các doanh nghiệp (DN), cá nhân đã gặp nhiều khó khăn khi triển khai đầu tư, mà nổi cộm là việc dự án phải tạm dừng để rà soát, thông tin quy hoạch khó tiếp cận, thủ tục hành chính rườm rà, mất nhiều thời gian... Chính vì những yếu tố đó đã tạo nên rào cản với môi trường đầu tư của thành phố, làm cho chỉ số PCI những năm đầu triển khai quy hoạch chung sụt giảm nghiêm trọng.

Thực hiện hàng loạt đồ án 
Phó Giám đốc Sở Quy hoạch - Kiến trúc Hà Nội Nguyễn Thế Công thừa nhận, sau khi địa giới hành chính Thủ đô tăng 3,6 lần, đồ án quy hoạch xây dựng chung được phê duyệt, các dự án, đồ án phải dừng để rà soát, khớp nối... Đây là giai đoạn khó khăn nhất đối với nhà đầu tư nói chung, DN bất động sản nói riêng; đồng thời việc phát triển kinh tế - xã hội cũng suy giảm do thất thu trong lĩnh vực đất đai. Dự án cũ phải dừng, dự án mới càng không thể triển khai vì tiền đề lập dự án đầu tư là thông tin quy hoạch chưa có. Năm 2011-2012, các dự án đề nghị cung cấp thông tin quy hoạch đều nhận được ý kiến trả lời "chờ quy hoạch phân khu, quy hoạch chung được duyệt" - ông Nguyễn Thế Công nói.


 Trước khó khăn, bức xúc của DN và yêu cầu phát triển của thành phố, Thành ủy, UBND TP Hà Nội đã xác định quy hoạch là nhiệm vụ trọng tâm, cần phải làm ngay và lấy năm 2012 là "Năm quy hoạch". Từ đó, một khối lượng công việc lớn đã được thực hiện đồng loạt, gồm 68 đồ án quy hoạch phân khu, quy hoạch chung; hàng trăm đồ án quy hoạch chi tiết, thiết kế đô thị, quy chế quản lý quy hoạch kiến trúc, chưa kể 401 quy hoạch xây dựng nông thôn mới và hơn 60 quy hoạch ngành. Tính đến hết quý I-2015, UBND thành phố đã thông qua 30/33 đồ án quy hoạch chung, 29/35 đồ án quy hoạch phân khu, ước hoàn thành 87% khối lượng các đồ án (59/68 đồ án). Trong 4 năm, kể từ năm 2011, Sở đã trình UBND thành phố phê duyệt 500 hồ sơ nhiệm vụ, đồ án quy hoạch chi tiết các khu chức năng đô thị, hai bên tuyến đường, làm cơ sở thực hiện dự án đầu tư, quản lý kiến trúc. Nhờ vậy, thời điểm này cơ bản đã đủ điều kiện, cơ sở pháp lý về quy hoạch để cung cấp thông tin, phục vụ các dự án đầu tư. 

Liên quan đến đồ án, dự án phải rà soát, ông Nguyễn Thế Công cho biết, trong 700 đồ án, dự án, chỉ có 153 đồ án, dự án thuộc nhóm 1 được phép tiếp tục triển khai và cập nhật vào quy hoạch chung xây dựng. Số còn lại đều phải điều chỉnh, khớp nối. Sau khi các đồ án quy hoạch chung, quy hoạch phân khu được thông qua, Sở Quy hoạch - Kiến trúc đã lần lượt thực hiện 4 đợt rà soát, lập danh mục 181 dự án cần điều chỉnh, thông báo đến DN; 67 đồ án, dự án đủ điều kiện nghiên cứu mà không cần chờ quy hoạch phân khu, quy hoạch chung được phê duyệt cũng được cập nhật. 

Thời gian là cơ hội của nhà đầu tư
Đến thời điểm này, mặc dù các thủ tục về quy hoạch xây dựng được công nhận có chuyển biến tích cực, song các nhà đầu tư tiếp tục kiến nghị thành phố cải cách, đổi mới, rút gọn thủ tục, hướng tới DN nhiều hơn nữa. Đại diện Công ty Minh Giang - ông Chu Phú Cường nói, các chỉ tiêu quy hoạch, phạm vi, khu vực, cần được quy định cụ thể, rõ ràng. Luật, nghị định, thông tư, quyết định của thành phố là cơ sở quản lý nhà nước, đồng thời cũng là cơ sở để DN, nhà đầu tư thực hiện nên càng rõ bao nhiêu, DN càng dễ làm bấy nhiêu. Ông Giang Quốc Trung, Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty UDIC đề nghị, nhiều chỉ tiêu quy hoạch đã lỗi thời, chẳng hạn quy định chung cư chỉ cao 9-11 tầng, dẫn đến lãng phí cho nhà đầu tư. Đại diện Tập đoàn Vingroup phản ánh, các cán bộ thụ lý hồ sơ phải đi họp nhiều, nên chăng thành phố giảm bớt họp hành, tăng thêm nhân lực giải quyết hồ sơ cho DN.

Các kiến nghị của nhà đầu tư tại hội nghị tiếp xúc DN đã được lãnh đạo Sở Quy hoạch - Kiến trúc ghi nhận. Phó Giám đốc Sở Quy hoạch - Kiến trúc Nguyễn Thế Công cho biết, Sở đã thành lập tổ công tác tháo gỡ khó khăn cho DN, do một phó giám đốc sở làm tổ trưởng. Đầu quý II-2015, Sở tiếp tục trình UBND thành phố phê duyệt thêm 7 đồ án quy hoạch và trong 9 tháng cuối năm sẽ hoàn thành phê duyệt 100% đồ án quy hoạch chung, quy hoạch phân khu còn lại. Như vậy, từ năm 2016, các dự án có đủ cơ sở về quy hoạch khu vực để triển khai quy hoạch chi tiết, làm cơ sở thực hiện đầu tư. 

Theo Giám đốc Sở Quy hoạch - Kiến trúc Nguyễn Thế Hùng, Sở đang tập trung tiếp tục rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ. Trường hợp xong trước hẹn, phòng ban giải quyết chủ động thông báo ngay đến nhà đầu tư để nhận kết quả. Trong quá trình thụ lý, nhà đầu tư có thể trình bày toàn bộ đồ án, Hội đồng Thẩm định tiếp thu ngay những đề xuất phù hợp nhưng đồng thời cũng chỉ ra ngay những đề xuất chưa phù hợp quy định, tiêu chuẩn, quy chuẩn. Như vậy, việc thẩm định công khai, minh bạch hơn, hạn chế tối đa bổ sung hồ sơ thủ tục hành chính. Việc liên thông giữa các sở, ngành cũng đổi mới; tùy từng đồ án, dự án mới lấy ý kiến cơ quan cần thiết; không nhất thiết xin ý kiến tất cả các sở, ngành nếu không liên quan. "Chúng tôi hiểu thời gian là cơ hội, là tiền bạc của nhà đầu tư" - ông Nguyễn Thế Hùng nói.

Giám đốc Sở Quy hoạch - Kiến trúc Nguyễn Thế Hùng:
Mặc dù một số đồ án quy hoạch phân khu chức năng chưa được phê duyệt nhưng thông tin quy hoạch vẫn có thể đáp ứng nếu có yêu cầu. Bên cạnh đó, Sở thực hiện cấp phép quy hoạch để DN chủ động thực hiện dự án, không làm ách tắc quá trình đầu tư. Trường hợp chỉ tiêu quy hoạch lỗi thời, nhà đầu tư có thể căn cứ quy hoạch chung, quy hoạch phân khu để đề xuất điều chỉnh.

Phát triển “Môi trường kép” hướng đến một đô thị đáng sống

So với các nước trên thế giới, lịch sử cư trú của Việt Nam có nhiều điều khác biệt. Đô thị Việt Nam trong lịch sử đơn giản là tập hợp của các quần cư đa dạng theo quan hệ “Đồng bào”, hình thành từ làng xóm nông thôn và có nhiều mối quan hệ khác nhau. Để xây dựng được đô thị lành mạnh, đô thi hạnh phúc có nghĩa là một “đô thị đáng sống” cũng cần xem xét đến yếu tố lich sử này.


Việt Nam từ trước đến nay do đang trong quá trình phát triển nên chủ yếu mới phát triển đô thị về số lượng và quy mô, chưa thực sự chú trọng đến chất lượng sống tốt, sống đẹp, chỉ mới tập trung vào không gian để sống (tồn tại), chứ chưa hẳn là một không gian đáng sống.Tuy nhiên với tiêu chí về phát triển bền vững thì xây dựng đô thị đáng sống luôn là phát triển đồng bộ của 2 yếu tố môi trường sinh thái và môi trường xã hội.

Xét về tiêu chí của khái niệm, có thể cho rằng đô thị đáng sống bao gồm rất nhiều các yếu tố liên quan đến môi trường sinh thái và môi trường xã hội.

Môi trường sinh thái có thể được hiểu bao gồm tấc cả các thành phần vật chất tạo nên cấu trúc đô thị như cây xanh, mặt nước, công trình kiến trúc, công trình hạ tầng dịch vụ…

Môi trường xã hội bao gồm các chất lượng dịch vụ, giáo dục, chăm sóc sức khỏe… mà con người cần có trong không gian sống một đô thị. Hai yếu tố này biểu hiện phần “định lượng” và “định tính” tác động tới chất lượng cuộc sống của đô thị và cũng là 2 yếu tố căn bản cần có chung của các đô thị đáng sống trên thế giới.

Môi trường xã hội là một yếu tố “đủ”- “định tính” nhưng lại có tác động mạnh đến chất lượng và tiện nghi sống của cư dân đô thị. Nếu hai môi trường trên cùng phát triển cân bằng thì sẽ tạo nên sự phát triển bền vững của một đô thị lành mạnh – đô thị hạnh phúc.

Do có điều kiện phát triển cụ thể khác nhau, hầu hết các đô thị Việt Nam là các đô thị trẻ, trình độ và quy mô phát triển kinh tế ở mức trung bình, các đô thị Việt Nam dù đều có 2 yếu tố trên nhưng đang ở các mức độ cao – thấp rất khác nhau và đang thấp hơn “mức chuẩn” quốc tế khá nhiều.

Hiện tại, trung bình tại các đô thị có khoảng 10% cư dân được hưởng chất lượng sống của một đô thị lành mạnh theo đúng nghĩa. Còn lại hầu hết cư dân có chất lượng sống đang ở mức trung bình và thấp, chưa được thụ hưởng các chất lượng sống đô thị tiêu chuẩn. Biểu hiện rõ nhất là tình trạng thiếu chỗ vui chơi giải trí, sân chơi công cộng cho trẻ em, ô nhiễm môi trường do chất thải và tiếng ồn, thiếu nước sạch và các nhu yếu phẩm sạch cần thiết cho cuộc sống.

Vì nhiều lý do khách quan và chủ quan, các đô thị chúng ta đang và sẽ phải khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực do cách quản lý đô thị “tự phát” và “ngắn hạn”. Ví dụ thực tế dễ thấy là đường giao thông mới mở, nhưng chỉ đến 5 năm sau đã bị quá tải không đáp ứng được nhu cầu sử dụng của đô thị. Quy hoạch chỉ đáp ứng như cầu mưu sinh trước mắt mà bỏ qua các yếu tố tiện nghi sống, môi trường thì sớm muộn cũng sẽ gây nên những bất ổn không đáng có trong tương lại mà việc khắc phục được sẽ là rất tốn kém về thời gian và tiền bạc.

Để có được những đô thị đáng sống trong điều kiện nước ta hiện nay, các nhà quy hoạch, kiến trúc và quản lý đô thị phải có những hành động dựa trên các chiến lược định hướng bài bản với tầm nhìn dài hạn.

Quy hoạch phải nhận diện và giải quyết tốt sự cân bằng lợi ích trước mắt để đạt được các hiệu quả lâu dài, đạt được các tiêu chuẩn đáng sống về mặt môi trường sống gồm cả môi trường sinh thái và môi trường xã hội, tạo nên những đô thị thích ứng với nhu cầu sống trong tương lai, chú trọng thêm nhiều hơn các vấn đề xây dựng môi trường xã hội. Cách làm này cũng rất tương đồng với chiến lược chung về phát triển bền vững cân bằng giữa 3 tiêu chí là kinh tế, văn hóa và môi trường trong giai đoạn giữa ngắn và dài hạn. Phát triển song song 2 yếu tố môi trường sinh thái và môi trường xã hội.

Tuy nhiên phát triển ở mức độ như thế nào cần căn cứ theo các điều kiện và nguồn lực cụ thể để hướng đến sự bình đẳng với mọi tầng lớp dân cư, đó cũng là phát triển bền vững cho xã hội.

Các quy định phát triển đồng bộ 2 yếu tố nói trên phải được luật hóa trong các văn bản về quản lý quy hoạch, xây dựng đô thị & các thiết kế nhà ở (từ nhà ở xã hội cho đến các hạng mục nhà ở thương mại cao cấp). Đây hoàn toàn là một cách làm thực tiễn bởi bài học kinh nghiệm từ các quốc gia phát triển đi trước như Singapore, Nhật Bản.

Từ cách đây 50 năm, việc phát triển và thiết kế nhà ở cho đại bộ phận cư dân tại Singapore đã đạt được các yếu tố tiện nghi về cả môi trường sinh thái và xã hội tương đương với các đô thị hiện đại hiện nay. Các công trình đều không chỉ bền về chất lượng mà bền cả về khả năng sử dụng, đáp ứng sự đổi mới và phát triển đô thị trong thời gian dài.

Nhật Bản với diện tích đất đô thị hạn hẹp nhưng cũng có những quy định chặt chẽ bảo vệ các không gian xanh trong đô thị ngay từ ban đầu. Các đô thị tuy hiện đại và có nhiều công trình cao tầng, nhưng đều tràn ngập mầu xanh của cảnh quan thiên nhiên.

Về phát triển môi trường sinh thái, với các đô thị Việt Nam, trước hết cần phải phá bỏ quan niệm lệch lạc, trong các đồ án quy hoạch đô thị và công tác quản lý đô thị về tổ chức môi trường sống hiện chỉ chủ yếu dựa trên tư duy “ăn liền” về kinh tế, thiếu các tầm nhìn khoa học lâu dài về bảo tồn và xây dựng đồng thời về môi trường như hiện nay. Xây dựng một quan niệm, ý thức tốt là điều cần làm trước tiên bên cạnh nỗ lực phát triển kinh tế.

Cần tránh tình trạng phát triển đô thị theo kiểu tận dụng tối đa hoặc xây chen nhà cao tầng như tại các đô thị thời gian qua và quy hoạch đô thị dựa trên lợi ích của đại bộ phận dân số, không vì lợi ích của một nhóm nhỏ mà hi sinh các lợi ích cộng đồng dài hạn, bởi một khi tiến hành cải tạo đô thị thì sẽ tốn kém hơn rất nhiều so với thực hiện ngay từ ban đầu.

Theo công bố Việt Nam có 30 – 40 % cư dân đô thị, nhưng thực chất con số người dân đô thị đích thực chỉ đạt khoảng 15%. Rất nhiều cư dân nông thôn chuyển đổi ra đô thị do quá trình sát nhập và mở rộng đia giới hành chính, vẫn giữ nguyên công việc và nếp sống của cư dân nông thôn. Sẽ cần có thêm thời gian để người dân hiểu và nhận thức được chất lượng sống, cách sống đô thị, từ nhận thức đó mới tạo nên một đô thị đáng sống, đô thị hạnh phúc của chính họ và mọi người. Văn minh đô thị thực chất rất khác với văn minh nông thôn về quan hệ sản sản xuất, phương thức sản xuẩt, lối sống… Cần hiểu rõ không thể chỉ dùng một văn bản hành chính đổi tên làng xã thành phường là chuyển đổi cư dân nông thôn thành cư dân đô thị.

Để có một đô thị đáng sống cho nhu cầu và hiện trạng các đô thị đang mở rộng và sát nhập như ở Việt Nam hiện nay, cần có kế hoạch cụ thể để chuyển đổi trang bị tư duy về văn minh đô thị, cách sống và hành xử cho mọi người dân hiểu và cùng tự nguyện thực hiện. Điều này cũng rất cần thời gian để cư dân tự trải nghiệm và chuyển đổi một cách tự nhiên. Ý thức con người không phải có được sau một đêm, phải biết chấp nhận thực tiễn trên nhưng có các biện pháp tác động hiệu quả để đẩy nhanh quá trình tự chuyển đổi.

Xây dựng một đô thị đáng sống ở Việt Nam là điều rất cần thực hiện ở thời điểm này, nhưng làm thế nào và thực hiện ra sao lại cần dựa trên các nghiên cứu với chiến lược cân bằng giữa ngắn hạn và dài hạn. Không để công tác lập và quản lý quy hoạch đô thị dựa trên các yếu tố chủ quan, ngẫu hứng, phục vụ cho một nhóm lợi ích, mà hi sinh sự phát triển và chất lượng sống chung của toàn đô thị. Hãy cùng chung tay để chúng ta có những đô thị đáng sống đúng nghĩa, mang đậm tính cách và bản sắc của đô thị và con người Việt Nam.

Môi trường sinh thái và môi trường xã hội là hai yếu tố biểu hiện phần “định lượng” và “định tính” tác động tới chất lượng cuộc sống của đô thị. Nó cũng là 2 yếu tố căn bản cần có chung của các đô thị đáng sống trên thế giới. Nếu hai môi trường trên cùng phát triển cân bằng thì sẽ tạo nên sự phát triển bền vững của một đô thị lành mạnh – đô thị hạnh phúc. V

ới các đô thị Việt Nam, trước hết cần phải phá bỏ quan niệm lệch lạc, trong các đồ án quy hoạch đô thị và công tác quản lý đô thị chủ yếu còn dựa trên tư duy “ ăn liền” về kinh tế, thiếu các tầm nhìn khoa học lâu dài về bảo tồn và xây dựng đồng thời về môi trường như hiện nay. Sẽ cần có thêm thời gian để người dân hiểu và nhận thức được chất lượng sống, cách sống đô thị, từ nhận thức đó mới tạo nên một đô thị đáng sống, đô thị hạnh phúc của chính họ và mọi người.

TS.KTS Nguyễn Xuân Hinh
(Trưởng Khoa Quy hoạch – Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội/theo TCKTVN)

Căn hộ dịch vụ trước sức ép cạnh tranh khốc liệt

Trước áp lực nguồn cung mới gia tăng liên tục từ các căn hộ cao cấp mua –để-cho-thuê, giá thuê căn hộ dịch vụ tại Hà Nội có chiều hướng giảm.

Loại hình căn hộ dịch vụ cho thuê tại Việt Nam thường được biết đến ở các dự án có chất lượng tốt, nằm ở các khu trung tâm Hà Nội dưới sự quản lý của các tập đoàn quốc tế uy tín, danh tiếng như The Ascott, Frasers Hospitality, Sedona, IHG, Accor, Norfolk Group hay The Peninsula Properties…


Nguồn cung ở loại hình căn hộ này so với các thành phố lớn trong khu vực cũng còn khá khiêm tốn. Theo một số đơn vị tư vấn quốc tế, Hà Nội hiện có khoảng trên 3.410 căn, trong khi đó như ở Singapore, Hong Kong, Indonesia quy mô có thể cao hơn gấp 4 đến 5 lần Việt Nam.

Trong những năm trước, mảng căn hộ cao cấp chưa được hoàn thiện và cho thuê nhiều nên giá thuê và công suất thuê loại căn hộ này khá cao và ổn định. Theo CBRE, giá thuê từ năm 2009 -2013 gần như không biến động nhiều, đạt mức trung bình khoảng gần 40 USD/m2/tháng.

Hai năm gần đây, loại căn hộ dịch vụ cho thuê đang đứng trước nguy cơ cạnh tranh khốc liệt do sự gia tăng mạnh mẽ của nguồn cung căn hộ cao cấp. Trong đó, một phần không nhỏ được các nhà đầu tư thứ cấp cho thuê lại. Dấu hiệu này thể hiện rất rõ ở giá thuê và công suất thuê.

Theo ghi nhận của CBRE, quý I/2015 giá chào thuê trung bình hầu như ổn định đối với cả hạng A và B lần lượt là 33,3 USD và 24,0 USD. Tuy nhiên giá chào thuê ở khu vực Tây Hồ vẫn cao hơn so với các khu vực khác do có hướng hồ, không gian rộng rãi thoáng mát với đầy đủ dịch vụ tiện ích nên vẫn là lựa chọn hàng đầu của khách nước ngoài.

Sự mở rộng và gia tăng của hình thức căn hộ mua-để-cho-thuê là một trong những nguyên nhân khiến chủ đầu tư giữ giá thuê ở mức ổn định. Bên cạnh đó, số lượng căn hộ mua-để-cho thuê được dự báo sẽ tiếp tục tăng. Vì vậy, giá chào thuê cũng sẽ theo đà giảm dưới sự cạnh tranh của thị trường.

Về diễn biến thị trường  trong Quý 1/2015, cả hai dự án căn hộ Hạng A và B đều có tỷ lệ lấp đầy cao, ở mức trung bình 80%. Tỷ lệ trống của căn hộ Hạng A là 17%, giảm 1,1 điểm % so với quý trước. Trong khi đó, tỷ lệ trống của căn hộ Hạng B cũng chứng kiến sự giảm nhẹ 0,4 điểm % xuống 14% so với quý trước.

Xét về nguồn cầu trong tương lai, CBRE cho rằng việc hai nước Nhật Bản và Hàn Quốc mạnh tay rót vốn vào các dự án ở Việt Nam, nhà máy Samsung đi vào hoạt động ở tình Thái Nguyên cũng như tuyến đường cao tốc Hà Nội – Thái Nguyên mới sẽ khiến cho nguồn cầu tăng mạnh ở thị trường căn hộ dịch vụ tại Hà Nội và các khu vực vành đai.

Tiếp cận các yếu tố tạo lập bản sắc đô thị

Cấu trúc đô thị không chỉ phản ánh sự vận động của lực lượng sản xuất mà còn bao hàm triết lý văn hóa - xã hội của cộng đồng. Với Việt Nam còn là sự chuyển tiếp từ nếp sống nông thôn sang nếp sống công nghiệp và quan niệm phong thủy, tâm linh trước lối sống hiện đại. Trên thế giới và ngay cả Việt Nam, cũng có những quan điểm cho rằng với sản xuất công nghiệp, nếp sống hiện đại cần những mô hình, cấu trúc đô thị hiện đại như nhau và xem yếu tố truyền thống chỉ là của quá khứ.


Cách nhìn nhận này đã tạo nên cấu trúc đô thị “điển hình” hoặc hình mẫu chung cho mọi đô thị vùng miền. Bài học này từ cuối thế kỷ XX đã được thế giới tổng kết và khẳng định rằng “chỉ có bảo tồn, phát huy các giá trị di sản truyền thống” mới tạo lập được cấu trúc đô thị hiện đại để phát triển bền vững.

Hà Nội là một đô thị điển hình về quá trình diễn biến trong cấu trúc đô thị. Nơi đây tập trung gần như đầy đủ các yếu tố trong cấu trúc đô thị truyền thống Việt Nam, từ cảnh quan thiên nhiên (cây xanh, sông, hồ…), từ các kiến trúc cổ truyền thống, từ các điểm dân cư “thị” của thời phong kiến, đến các di sản đô thị dân gian, cận hiện đại chịu ảnh hưởng của văn hóa châu Âu, cùng các truyền thuyết, huyền thoại, nếp sống văn hóa truyền thống song luôn phát triển với đặc trưng văn hóa riêng.

Lịch sử phát triển với các quy hoạch không gian đều luôn khẳng định trung tâm TP là trung tâm lịch sử của Thăng Long - Hà Nội. Các không gian cảnh quan kiến trúc đô thị, các loại hình kiến trúc công trình từ làng cổ, phố cổ, khu phố cũ được gìn giữ với chuyển hóa thích hợp. Tất cả được đan xen hài hòa để tạo thành một tổng thể thích hợp, hòa quyện với cảnh quan, cây xanh, mặt nước.

Với định hướng như vậy, dù kết quả thực hiện và yêu cầu quản lý còn một vài tồn tại, song Hà Nội đã thực sự tạo lập được bản sắc riêng, được cả nước và bạn bè trên thế giới đánh giá cao và là điểm đến của đô thị.

Trong định hướng phát triển đô thị Việt Nam, không thể xác định mẫu “cấu trúc điển hình” cho các đô thị mà mỗi đô thị phải từ nhận diện quỹ di sản của mình để tạo lập cấu trúc đô thị có bản sắc riêng phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, điều kiện tự nhiên, đặc trưng dân số, trình độ khoa học kỹ thuật, văn hóa lịch sử của từng địa phương.

Bảo vệ môi trường và cân bằng sinh thái đô thị
Đô thị với hệ thống chức năng đa dạng, đan kết của nhiều khu chức năng được xem là hệ sinh thái riêng - hệ sinh thái đô thị có sự tương hỗ giữa cấu trúc đô thị và môi trường thiên nhiên và là hệ sinh thái “động” có chuyển hóa nội tại. Với lịch sử phát triển của các đô thị Việt Nam cần phải xem xét đến yếu tố liên kết giữa hệ sinh thái đô thị với hệ sinh thái nông thôn - sinh thái thiên nhiên của ngoại thành, ngoại thị và của vùng xung quanh.

Để tạo lập bản sắc đô thị cần nhận diện và bảo vệ hệ khung thiên nhiên của đô thị: rừng tự nhiên, rừng phòng hộ, vườn Quốc gia, sông hồ cây xanh và tạo lập vùng ngoại thành, ngoại thị thích hợp với đô thị trung tâm.

Phát triển đô thị Việt Nam vừa qua đã được chú trọng đến các yêu cầu trên, thậm chí còn có khuynh hướng mở rộng đô thị ra ngoại thành ngoại thị. Hà Nội được mở rộng địa giới năm 2008 với diện tích đất tự nhiên là 3.344km2. Theo Quy hoạch chung được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt 2011 thì đến năm 2030 dân số đô thị dự tính khoảng 9 - 9,2 triệu, tỷ lệ đô thị hóa khoảng 65 - 68%, tổng diện tích đất xây dựng đô thị chỉ chiếm 947km2 (khoảng 28,3% diện tích tự nhiên) còn lại hơn 70% là nông nghiệp, lâm nghiệp. Điểm dân cư nông thôn TP.HCM với diện tích 2.095km2 theo quy hoạch chung được duyệt năm 2010 thì đến năm 2015 dân số khoảng 10 triệu người (nội thành 7 - 7,4 triệu, ngoại thành 2,6 - 3 triệu) đất xây dựng đô thị khoảng 900 - 1.000km2 còn lại là ngoại thành với hơn 100km2. Xu hướng này không chỉ với các đô thị lớn mà còn là chung với nhiều đô thị khác trong bối cảnh phát triển bền vững và tác động của biến đổi khí hậu đang được cả thế giới quan tâm thì xu hướng của Việt Nam không chỉ thể hiện đặc trưng của đô thị Việt Nam mà còn phù hợp với xu thế đô thị hóa toàn cầu.

Vấn đề đặt ra là ngoại thành, hệ sinh thái nông nghiệp được phát triển thế nào để phù hợp với chức năng từng đô thị và xây dựng nông thôn mới ngoại thành, ngoại thị không chỉ theo định hướng xây dựng nông thôn mới nói chung mà còn cần xác định các tiêu chí đặc thù cho đô thị.

Phát triển kiến trúc cảnh quan, kiến trúc đô thị có bản sắc
Mỗi đô thị Việt Nam trong lịch sử hình thành và phát triển đều chứa đựng bản sắc riêng về kiến trúc. Để tạo lập bản sắc cho đô thị cũng cần hình thành bộ mặt kiến trúc cảnh quan, kiến trúc đô thị và kiến trúc công trình để tạo nên hình ảnh đô thị tương xứng.

Nhìn lại quá trình phát triển kiến trúc nói chung, kiến trúc đô thị Việt Nam nói riêng chúng ta khẳng định đã có những chuyển biến song cũng phải thừa nhận rằng kiến trúc Việt Nam chưa khẳng định được trường phái, phong cách kiến trúc mà chỉ mới có một số xu hướng sáng tác, nguyên nhân thì có nhiều song cũng có thể khẳng định là chưa xác lập được bản sắc đô thị để định hướng phát triển kiến trúc.

Để giải quyết rất cần nâng tầm và tạo lập mối quan hệ tương hỗ giữa những người làm công tác quy hoạch xây dựng với KTS thiết kế công trình và các nhà quản lý.

Tạo lập bản sắc đô thị là giải pháp tạo bước phát triển mạnh mẽ về văn hóa - xã hội gắn với phát triển bền vững và là cơ số để đất nước phát triển nhanh. Đây cũng là vấn đề đa ngành còn cần được nghiên cứu nhiều hơn nữa. Một số vấn đề nêu trên chỉ là bước đầu cảm nhận rất mong được trao đổi.

Trên thế giới và ngay cả Việt Nam, cũng có những quan điểm cho rằng với sản xuất công nghiệp, nếp sống hiện đại cần những mô hình, cấu trúc đô thị hiện đại như nhau và chỉ xem yếu tố truyền thống chỉ là của quá khứ. Cách nhìn nhận này đã tạo nên cấu trúc đô thị “điển hình” hoặc hình mẫu chung cho mọi đô thị vùng miền. Bài học này từ cuối thế kỷ XX đã được thế giới tổng kết và khẳng định rằng “chỉ có bảo tồn, phát huy các giá trị di sản truyền thống” mới tạo lập được cấu trúc đô thị hiện đại để phát triển bền vững.

Cúi xuống để hiểu dân cần gì!

“Bình Dương đi đầu trong cả nước về phát triển nhà ở cho người lao động. UBND tỉnh Bình Dương có đề án xây dựng lần lượt hơn 64.000 căn hộ cho người lao động. Đây là đề án lớn nhất, chưa có địa phương nào có đề án như thế” - Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trịnh Đình Dũng đã đánh giá như vậy khi tham quan căn hộ nhà ở xã hội của tỉnh Bình Dương hôm 3.4.


Bàn về nhà ở xã hội nhiều, nhưng làm có hiệu quả thì chưa. Công nhân, người lao động nghèo mơ ước có căn nhà và đã bao năm chỉ là giấc mơ. Nay ở Bình Dương, giấc mơ đó trở thành hiện thực.

5.000 căn hộ, mỗi căn có giá khoảng 100 triệu đồng, lại có chính sách trả góp mỗi tháng chỉ hơn 1 triệu đồng, đó là cơ hội cho người lao động mua được nhà. Bình Dương là tỉnh công nghiệp thu hút lao động từ nhiều địa phương khác đến, người lao động ngày càng tập trung đông, chỗ ở thiếu, áp lực về xã hội rất lớn. Bài toán nhà ở cần phải giải đầu tiên trước khi giải những bài toán khác. Và mô hình căn hộ nhỏ cho dự án nhà ở xã hội là cách giải thông minh.

Mô hình căn hộ 30m2 từng được đưa ra ở địa phương khác, nhưng chưa được chấp thuận vì cho rằng quá hẹp, sẽ trở thành nhà ổ chuột. Chính vì tư duy chưa có nhỏ đã đòi to này mà dân nghèo đứng nhìn nhà to mà khóc. Tại sao khi người lao động nghèo không đủ tiền để sinh sống, mà cứ nghĩ đến nhà phải đủ diện tích theo tiêu chuẩn “trên trời”. Hãy cúi xuống thấp để thấy người nghèo cần gì.

Nhà diện tích lớn, nhưng để người dân xây cất tự phát, lộn xộn, không có quy hoạch, thiết kế nội thất không khoa học, tổ chức khu dân cư kém, giao thông không thuận lợi thì mới trở thành ổ chuột; còn làm có bài bản, quy củ, thì nhà nhỏ vẫn sạch đẹp, văn minh.

Để thực hiện được dự án nhà ở xã hội thành công như vậy, Bình Dương đã có sáng kiến đột phá hay còn gọi là “giải pháp thông minh”. Nhưng để thông minh được như vậy là xuất phát từ cái tâm thương dân, nghĩ đến dân, lo cho dân, mà đặc biệt là dân nghèo. Các nhà quản lý, doanh nghiệp đã gặp nhau ở cái điểm cốt lõi đó, mới tạo ra được chính sách và cách thực hiện hiệu quả.

Hàng trăm ngàn lao động nhập cư, chủ yếu là công nhân, thu nhập thấp. Nếu các vị lãnh đạo địa phương, các doanh nghiệp không trăn trở, tìm kế sách, thì người nghèo khó có được căn nhà để ở.

Nhà nhỏ nhưng có còn hơn không, ước gì các địa phương khác cũng lo được cho người lao động, người nghèo như vậy.

Liệu đô thị phát triển bền vững có thực sự mang lại hạnh phúc?

Cuộc đua tranh mãnh liệt chạy theo hình thức bề ngoài của những trang thiết bị công cộng bền vững đang diễn ra, liệu đây có thể là một nguyên nhân khiến phần lớn dân số bị tách biệt khỏi tiện ích đô thị? Liệu các nhà quy hoạch có đủ dũng cảm để từ chối xây dựng những khu phố có vẻ như đang đi theo những tiêu chuẩn của phát triển bền vững nhưng thực ra chỉ là những khu phố mới lạ, không thật sự thiết thực và không có giá trị lâu bền?

Những khu phố sinh thái và chi phí liên quan
Hạn chế của các khu đô thị sinh thái chính là người mua phải trả một mức giá rất cao để sở những căn hộ mới cùng các dịch vụ tiện ích đi kèm, bao gồm cả chi phí cho việc ứng dụng công nghệ kỹ thuật hiện đại nhằm đảm bảo yếu tố "phát triển bền vững" trong tương lai. Hạn chế này gây trở ngại lớn cho những người có thu nhập thấp, khiến họ không thể tiếp cận những căn hộ nói trên.

Thực tế tại Pháp, giá mua nhà càng ngày càng đắt đỏ. Cũng không nên quy kết toàn bộ trách nhiệm cho việc phát triển bền vững như là nguyên nhân duy nhất của sự việc trên. Thực chất, hiện tượng này đã phổ biến từ rất lâu. Trong vòng hơn 30 năm trở lại đây, một bộ phận rất lớn người dân bị tách biệt khỏi các tiện ích đô thị do không có đủ các công cụ tài chính để tiếp cận các dự án quy hoạch mới.

Vậy vấn đề ở đây không phải là xây nhà ở theo yêu cầu của chủ đầu tư mà là phải xây dựng những căn hộ nằm trong khả năng mua của đại bộ phận dân chúng. Từ năm 1997 đến nay, chi phí xây dựng đã tăng lên 125% trong khi đó sức mua chỉ tăng 25%, tỷ lệ vay nợ của người dân đạt ngưỡng 75% trong khi đó cách đây 30 năm, tỷ lệ này chỉ là 25%, khả năng mua nhà của các cặp vợ chồng lần đầu mua nhà giảm 8m2 cho mỗi 5 năm.

Khu đô thị bền vững Bedzed, Vương quốc Anh.
Sau đợt tăng giá 12.5% trong năm 2011 trong vùng Ile de France, giá trung bình của một căn hộ là 4500 euro/m2 (khoảng 135.000.000 VND). Việc tính thêm từ 10 đến 15% trong chi phí xây dựng nhằm áp dụng kỹ thuật mới bảo đảm tính bền vững lâu dài cũng là một nguyên nhân góp phần làm tăng giá thành.

Paris mở rộng, có phải là giải pháp? Về việc này, điều luật về Paris mở rộng đặt mục tiêu mỗi năm xây dựng 70.000 nhà ở thay vì 40.000 nhà ở như hiện nay có vẻ như chưa chú trọng quan tâm về loại hình nhà ở cần xây. Kinh nghiệm cho thấy khi mật độ xây dựng chưa được cụ thể hóa cùng với việc xây dựng một số lượng lớn nhà ở đòi hỏi Nhà nước phải có những công cụ quản lý thực sự hữu hiệu: quyền ưu tiên mua nhà đất, hợp pháp hóa quyền yêu cầu thương lượng. Mặc dù những công cụ quản lý có hữu hiệu , tuy nhiên vấn đề chính về chi phí xây dựng nhà ở trong tương lai vẫn chưa hề được đề cập đến.

Trong chi phí xây dựng nhà ở, điều đầu tiên chúng ta cần tính đến là giá đất đai. Mặc dù giá đất thường có xu hướng tăng lên, các chuyên gia trong ngành đều thống nhất rằng không có tình trạng thiếu đất đai ở Pháp. Thực ra vấn đề nằm ở việc chuyển đổi đất đai không xây dựng được thành đất quy hoạch.

Tương tự như vậy ở Việt Nam, nơi mà các dự án tài trợ đã phê duyệt của các nhà đầu tư thường được bán rất đắt. Các dự án quy hoạch theo xu hướng mới hiện nay phải tiêu tốn thêm rất nhiều chi phí: Các công viên quy mô lớn, những khu vườn tự nhiên, các con phố và công trình công cộng được hoàn thiện bằng những nguyên vật liệu chất lượng và thẩm mỹ nhất, các tác phẩm nghệ thuật và trang trí đô thị thực hiện bởi những nhà thiết kế danh tiếng khiến cho chi phí xây dựng tăng cao, và người dân sẽ phải trả thông qua chi phí dịch vụ nhà ở. Hơn nữa, giá đất đai luôn có xu hướng tăng lên do cách thức tính toán rất máy móc của những nhà quy hoạch.

Cách tính của họ không định giá đất đai dựa theo khả năng tài chính của những người mua mà dựa theo dự toán giá bán cao nhất của thị trường trong tương lai từ 1 đến 2 năm tiếp theo. Ở Việt Nam, tình hình diễn ra cũng tương tự khi mà nhu cầu thực tế của thị trường thường ít khi được xem xét một cách nghiêm túc.

Chúng ta cũng cần nói thêm rằng tất cả các công nghệ mới được áp dụng để đảm bảo phát triển bền vững, ví dụ như các nguồn năng lượng thay thế (hệ thống nhiệt điện kết hợp, sưởi bằng củi hoặc bằng năng lượng mặt trời, trữ nước mưa bằng các hệ thống máng, các bể chứa ngầm hoặc các lưu vực, hệ thống giao thông thay thế (dịch vụ cho thuê xe đạp, thu dọn rác bằng các đường dẫn khí nén)… đều là những kỹ thuật tuyệt vời mục đích chính trị, nhưng lại không thực sự quá cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của các gia đình có thu nhập thấp.

Các chủ đầu tư phát triển nhà ở không định giá đất đai dựa theo khả năng tài chính của những người mua mà dựa theo dự toán giá bán cao nhất của thị trường trong tương lai từ 1 đến 2 năm tiếp theo. Người dân phải chịu một gánh nặng tài chính ngày càng lớn từ các chi phí phải trả cho đô thị hoá “bền vững” cộng thêm với những dịch vụ công cộng truyền thống. Chính con người mới là yếu tố đóng vai trò trung tâm, công nghệ được sử dụng để phục vụ cho lợi ích của con người. Do đó, phát triển bền vững cần phải được xã hội hóa, để con người được sinh sống một cách vững bền trên chính lãnh thổ của mình. Tại Pháp, cuộc sống đô thị ngày càng đắt đỏ là nguyên nhân thứ hai khiến các đối tượng thu nhập thấp bị tách biệt khỏi cuộc sống thành thị.

Tại các đô thị, vùng đô thị và khu vực lớn hơn, áp lực phải đóng thuế của người dân đang ngày một tăng một cách đáng lo ngại, và nhanh chóng vượt qua mức lạm phát trung bình. Mỗi năm, trung bình các đơn vị hành chính địa phương tăng mức thuế từ 5 đến 6%. Năm 2010, thuế nhà đất ở Paris tăng 50%, lên 600 euros, ở Marseille là 800 euro/m2 và ở Bordeaux là hơn 1000 euro/m2. Như vậy, giá nhà đất cùng chi phí những dịch vụ đô thị thiết yếu càng ngày càng tăng cao mà không có dấu hiệu giảm sút.

Nguyên nhân đầu tiên của tính thiếu bền vững của con người chính là cách biệt về kinh tế. Nghĩa là người dân không thể thuê được nhà và chi trả những dịch vụ tối thiểu của cuộc sống đô thị: đi lại, giao tiếp, sử dụng năng lượng, hay xử lí rác thải.
Trọng trách mới của các chuyên gia đô thị

Các nhà quy hoạch đô thị theo mô hình phát triển bền vững sẽ phải rất quyết đoán và rõ ràng trong việc xác định vai trò thật sự của họ: Họ sẽ chỉ làm công việc đơn giản là cập nhật và áp dụng những công nghệ mới, hay họ phải hiểu thực tế rằng việc xây dựng những khu phố với giá thành hợp túi tiền với số đông là mang tính hiển nhiên và bắt buộc.

Liệu họ sẽ có thể thuyết phục giới chính trị gia rằng cuộc đua mãnh liệt của những trang thiết bị công cộng bền vững có thể trở thành một nguyên nhân khiến phần lớn dân số bị tách biệt khỏi cuộc sống đô thị ? Liệu họ có đủ dũng cảm để từ chối xây dựng những khu phố có vẻ như đang đi theo những tiêu chuẩn của phát triển bền vững, nhưng thực ra chỉ là khu phố mới lạ, nhưng không thật sự thiết thực, và không có giá trị lâu bền.

Phát triển bền vững là yếu tố ảnh hưởng tới việc quản lý giá đất
Đâu là lý do biến sự phát triển bền vững trở thành yếu tố ảnh hưởng và chi phối giá đất ?

Công tác quản lý giá đất xây dựng và chi phí xây dựng, giá cả dịch vụ và trang thiết bị đi kèm. Sự phát triển bền vững phải trở thành yếu tố trung tâm của những vấn đề nêu trên, nếu không thì nó cũng sẽ chỉ là một trào lưu nhất thời cho những người giàu có.

Như đã giải thích ở phía trên, giá thành đắt đỏ của công trình phụ thuộc rất nhiều vào quá trình và cách thức xây dựng. Cụ thể là phụ thuộc vào tác động của 2 yếu tố: Chi phí quy hoạch và tham vọng đạt giá bán cao nhất trên thị trường. Chính vì thế, rất cần sự phối hợp giữa các nhà lãnh đạo địa phương với giới chuyên gia quy hoạch và người dân sống trên địa bàn.

Tại Việt Nam, thực trạng cũng tương tư khi mà đất nước này vẫn thiếu các công cụ quản lý công để có thể thực sự chủ động trong việc điều chỉnh giá đất. Một khu nhà ở vẫn có thể đảm bảo điều kiện sống chất lượng cho người dân, mà không cần phải đầu tư quá tốn kém. Đó chính là trọng trách đầu tiên đang chờ đợi các chuyên gia quy hoạch và nhà đầu tư để hướng tới một tương lai phát triển bền vững.

Giá thành nhà ở. Giá bán nhà ở có thể được điều chỉnh theo 2 cách. Cách thứ nhất là ưu tiên những người mua nhà lần đầu tiên được mua với giá rẻ hơn giá thị trường. Điều này chỉ làm được nếu có những công cụ đảm bảo sự minh bạch, để tránh việc người mua bán lại ngay sau khi mua để kiếm lời. Nhiều nhà lãnh đạo tiền nhiệm đã thử áp dụng bằng cách áp đặt giá bán tối đa cho cá nhân kinh doanh bất động sản.

Do thiếu cơ sở pháp lý, phương pháp này hiển nhiên đỏi hỏi một thái độ chính trị cương quyết và dũng cảm ; do đó xứng đáng được đề cao và nên được các nhà lãnh đạo suy xét để ứng dụng, trong giới hạn cho phép những công cụ sẵn có và các khu quy hoạch trong tầm kiểm soát của họ. Một khu phố có thể kém sang hơn, nhưng giá cả hợp lý hơn. Cách thứ hai để điều chỉnh giá nhà đất là điều chỉnh giá thành xây dựng. Cách này dành được nhiều quan tâm từ giới chuyên môn (kiến trúc sư, kĩ sư..), công ty xây dựng và các nhà đầu tư.

Cách cuối cùng để điều chỉnh giá nhà đất là khả năng quản lý chi phí dịch vụ và trang thiết bị đô thị đi kèm. Việc cần làm ở đây là phải nghiên cứu và xem xét lại phương pháp xây dựng những khu ở mới tích hợp sẵn các tiện ích dịch vụ cho người dân. Theo kinh nghiệm rút ra được trong việc tích hợp các tiện ích dịch vụ ngay từ quá trình xây dựng, tổng chi phí bao gồm cả xây dựng và dịch vụ cần phải được chỉ rõ trong hồ sơ mời quan tâm ngay từ giai đoạn đầu của các dự án quy hoạch đô thị.

Việc hợp nhất các nhà cung cấp dịch vụ với đội ngũ làm quy hoạch là cách để kiểm soát chi phí dịch vụ về lâu dài. Tuy nhiên, điều này đòi hỏi phải có những cải cách trong việc thực hiện luật đấu thầu cũng như cách thức tổ chức mời thầu. Cụ thể, phải cho bên cung cấp dịch vụ (năng lượng, xử lý nước thải, rác thải và một số dịch vụ giao thông thay thế) tham gia cả trong hai giai đoạn kỹ thuật cũng như tài chính của gói thầu.

Các loại hình dịch vụ mới như dịch vụ thu gom năng lượng mặt trời bằng cách sử dụng tấm năng lượng mặt trời hoặc bằng cách tận dụng hệ thống nhiệt điện kết hợp, hay năng lượng địa nhiệt cho thấy một thực tế là: Các khu phố bền vững này rất cần sự đóng góp của giới chuyên môn và những nhà điều hành ngay từ giai đoạn lên ý tưởng cho dự án. Điều này có thể hiểu là việc đưa các nhà cung cấp dịch vụ quy mô lớn vào các dự án quy hoạch đô thị để thông qua đó, thuyết phục chính những nhà cung cấp này trở thành nguồn đầu tư cho dự án và góp phần vào việc quản lý chi phí dịch vụ về lâu dài.

Những lập luận đưa ra trong bài viết này không coi việc áp dụng tiến bộ kĩ thuật để phát triển bền vững là vấn đề cần khắc phục, mà có ý nhấn mạnh rằng chính con người mới là yếu tố đóng vai trò trung tâm, công nghệ được sử dụng để phục vụ cho lợi ích của con người chứ không phải ngược lại. Do đó, phát triển bền vững cần phải được xã hội hóa, để con người được sinh sống một cách vững bền trên chính lãnh thổ của mình.

Francois Bourgineau - Chuyên gia đô thị, AREP (CH Pháp)

Thiết kế nhà theo mệnh gia chủ

Thiết kế nhà theo mệnh gia chủ

Mệnh của chủ nhà có ảnh hưởng lớn đến vượng khí, tài lộc, sức khỏe, tình cảm... của những người trong gia đình.
Nguyên tắc chung trong thiết kế nhà hợp mệnh gia chủ hướng đến các mối quan hệ tương sinh và tuyệt đối tránh tương khắc.
 
Nếu biết cách thiết kế nhà theo phong thủy, bạn có thể điều chỉnh không gian sống để tận hưởng cảm giác thanh bình, thoải mái và đón nhận vận may trong năm mới.
Nguyên tắc chung là hướng đến các mối quan hệ tương sinh và tuyệt đối tránh tương khắc.

Phong thủy Việt cũng xác định con người sống trong mối quan hệ đại vũ trụ - tiểu vũ trụ tương hòa, cho nên màu sắc, kích cỡ của đồ nội thất cần hài hòa với tổng thể ngôi nhà.

Mệnh Hỏa

Tuy màu đỏ tượng trưng cho Hỏa nhưng sẽ thật sai lầm nếu bạn lạm dụng màu nóng này từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài ngôi nhà. Thay vào đó, bạn có thể sử dụng màu có tông nhạt hơn như màu hồng, hồng tím… khi chọn đồ nội thất, rèm cửa. Gia chủ mệnh Hỏa phù hợp với cổng có nhiều nét nhọn, vát chéo và sơn màu đỏ, cam hay cổng có mái ngói nhọn.

Mệnh Mộc

Màu xanh lá cây tượng trưng cho mệnh Mộc. Ngoài ra, những món đồ nội thất màu xanh lá cây giúp bạn cân bằng trạng thái tinh thần. Nhiều người cho rằng màu xanh lá cây giúp gia chủ có ý thức rèn luyện sức khỏe. Gia chủ mệnh Mộc nên chọn cổng nhà làm bằng gỗ hoặc sắt có họa tiết hoa lá, sơn màu xanh lá cây.

Mệnh Thổ

Màu vàng tượng trưng cho Thổ. Đây cũng là lựa chọn tuyệt vời cho phòng của trẻ nhỏ cũng như không gian sinh hoạt chung của cả gia đình. Tuy vậy, gia chủ cần lưu ý những màu kỵ với cung mệnh của mình: xanh lá cây, nâu thuộc mệnh Mộc có yếu tố khắc mệnh Thổ. Vật liệu trang trí phù hợp là thạch cao, đất nung, đồ gốm, gạch, đá vôi, đồ sành sứ, bình đất. Cổng nhà cho gia chủ thuộc mệnh Thổ nên có thiết kế vuông vức, kết hợp với tường rào xây gạch đá có gam màu vàng hoặc màu đất. Hướng nhà lý tưởng là Đông Bắc và Tây Nam.

Mệnh Kim

Nếu thuộc mệnh Kim, gia chủ nên chọn trang trí nhà với màu trắng tượng trưng cho mệnh Kim hoặc sử dụng màu vàng nhạt, xám và tránh màu đỏ, hồng vì Thổ sinh Kim, còn Hỏa khắc Kim. Để cuộc sống yên ấm, làm ăn thuận lợi, cổng nhà của người mệnh này nên có hình dáng cong tròn và màu xám.

Mệnh Thủy

Bài trí nhà cho người mệnh Thủy dễ hơn mệnh Mộc, Hỏa, vì Thủy mang nhiều yếu tố tốt đẹp về sức khỏe, may mắn và tài lộc. Tuy vậy, nếu làm quá tay, thủy khí sẽ át hết hỏa khí, mộc khí, làm trôi hết may mắn, tài lộc trong nhà. Ngoài màu xanh dương tương ứng, những người mệnh Thủy còn thích hợp với những màu tối như tím, xám… Cổng cho gia chủ mệnh Thủy nên có màu xanh biển hoặc đen, kết hợp hoa văn uốn lượn mềm mại.


Một số nguyên tắc khác

Nếu hướng nhà Đông Nam, bạn có thể sơn tường màu xanh lục nhạt; Tây Nam là vàng, nâu nhạt; Tây Bắc là trắng, bạc. Vị trí cổng mở, nếu nhìn từ bên trong nhà ra ngoài nên tránh bố trí thẳng với ngã ba, tránh dẫn lối trực xung với cửa chính của nhà vì sinh khí đi theo đường vòng, sát khí đi theo đường thẳng. 


Theo nguyên lý phong thủy, phòng khách nên đặt ở vị trí trung tâm của ngôi nhà vì đây là nơi tụ nhiều vượng khí nhất.